Năm Sửu kể chuyện trâu

 Con trâu đứng thứ hai trong hàng 12 con giáp thuộc Lịch pháp hệ can chi cổ truyền phương Đông. Con trâu từng gắn bó với con người từ cổ xưa đến nay - đặc biệt là người nông dân trong sản xuất nông nghiệp, làm ra lương thực nuôi sống con người. Con trâu cùng một số con giáp khác như con mèo (năm Mão), con ngựa (năm Ngọ), con gà (năm Dậu), con chó (năm Tuất), con lợn (năm Hợi)… vốn sống gần gũi mật thiết với con người nên từ xưa đến nay đã được nhiều loại hình văn hóa - nghệ thuật từ dân gian đến chuyên nghiệp dày công mô tả, biểu đạt. Nhân dịp đón xuân Tân Sửu (2021) xin trích lục đôi dòng về loài trâu trong kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú của người Việt.


Năm Sửu kể chuyện trâu
Chăn trâu thổi sáo - tranh dân gian Đông Hồ

1. Thành ngữ - Tục ngữ

- Đàn gẩy tai trâu
- Muỗi đốt sừng trâu
- Trâu lấm/ vẩy càn
- Trâu chậm uống nước đục
- Trâu ho/ bò ngã
- Trâu buộc ghét trâu ăn
- Con trâu là đầu cơ nghiệp
- Trâu chết để da, người chết để tiếng
- Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu
- Cày cạn, khỏe trâu
Cày sâu tốt lúa
- Lạc đường nắm đuôi chó
Lạc ngõ nắm đuôi trâu
- Làm rể chớ nấu thịt trâu
Làm dâu chớ đồ xôi lại
- Tậu trâu lựa nái
Cưới gái lựa dòng
- Muốn giàu nuôi trâu cái
Muốn lụn bại nuôi bồ câu
- Làm ruộng không trâu
(như) Làm dâu không chồng
- Ruộng sâu, trâu nái 
Không bằng con gái đầu lòng
- Trâu đứng không ai mà cả
Trâu ngã lắm kẻ cầm dao
- Trâu thì kho, bò thì tái
- Ăn thịt trâu không tỏi
Như ăn gỏi không rau mơ

Xem tướng trâu
- Cao đầu, thấp hậu
Thì tậu liền tay
- Đốm đầu thì nuôi
Đốm đuôi thì thịt
- Lang đuôi thì bán
Lang tán thì nuôi
- Mắt bánh rán (lồi)
Trán bánh chưng (phẳng)
Lưng tôm càng (cong)
(là trâu tốt)
- Tậu trâu xem vó
Lấy vợ xem nòi
- Sừng cánh ná
Dạ bình vôi
Mắt ốc nhồi
Nhanh như chớp
- Tai lá mít
Sừng khít tai
Cày hôm cày mai
Cày hoài không mệt
- Sừng to, móng hến
Còn kén gì hơn?

2. Ca dao

- Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
- Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
- Kể chi trời rét đồng sâu
Chồng chồng vợ vợ rủ nhau đi bừa
Bây giờ trưa đã hồ trưa
Chồng vác lấy bừa, vợ dắt con trâu
- Lao xao gà gáy rạng ngày
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu
- Trâu hay không ngại cày trưa
Mạ già ruộng ngấu chẳng thua bạn điền
- Một mai trống thủng còn vành
Da trâu bịt lại cũng thành như xưa
- Ai ơi uống rượu thì say
Bỏ rượu, bỏ cày, bỏ giống ai gieo?
- Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng là cỏ thơm
- Công anh chăm nghé bấy lâu
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày
- Đôi ta cùng bạn chăn trâu
Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hàng
Bao giờ cho gạo bén sàng
Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh
- Gặp đây ăn một miếng trầu
Còn hơn đám cưới mổ trâu ăn mừng
- Một trâu anh sắm đôi cày
Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia
Chàng ơi mau cho em ra
Lẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung
- Phù thủy, thầy bói, lái trâu
Nghe ba gã ấy đầu lâu chẳng còn
- Sập sùi tháng bảy mưa ngâu
Con trời lấy chú chăn trâu cũng tình
- Chú Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa, gọi cha ồi ồi
Mẹ còn cắt cỏ trên đồi 
Cha còn cưỡi ngựa đi mời quan viên

Xem tướng trâu
- Bạc mi, quá tóc, vênh sừng
Trâu mà như vậy thì đừng có nuôi
- Khoáy sừng, khoáy sỏ, khoáy tai
Tam tai chằng ách làm tai chúa nhà
- Chùng đùi (đùi mập), thắt quản (ống chân nhỏ như thắt lại), ngắn đuôi
Sừng to, móng hến thì nuôi đáng tiền 
- Xà sừng, mắt lại nhỏ con
Vụng đàn, chậm chạp ai còn nuôi chi.
- Muốn mua trâu tốt, trâu hiền
Khô chân, gân mặt đắt tiền cũng mua
- Tam tinh khoáy sỏ thì chừa
Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi
 
3. Đồng dao

Nghé bông nghé hoa
Như cà mới nở
Mẹ gọi tiếng trước
Cất cổ chạy mau
Mẹ gọi tiếng sau
Chân lồng mà chạy
Có không theo mẹ
Có khéo theo đàn
Chớ có ăn quàng
Có ngày mất mẹ
Việc nặng phần mẹ
Việc nhẹ phần con
Kéo nỉ kéo non
Kéo đến quanh tròn
Mẹ con ta nghỉ
Ông khách hỏi mua
Nhà ta chả bán
Ông khách hỏi gạn
Nhà ta chả cho
Cắt cỏ ăn no
Theo cày đỡ mẹ
Nghé ọ, nghé ơ…

4. Vè

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè con trâu
Ở với nhà giàu
Thật thà hết sức
Lên ba thì giật
Lên bốn kéo cày
Cắm đầu nửa ngày
Giờ Ngọ mới thả
Lên bờ đứng thở
Hết mệt mới ăn
Khi chết nhăn răng
Lột da bịt trống
Làm thân con trâu
Tù lao cực khổ
Bắt đi cày riết
Việc làm khôn xiết
Người ta trên đời
Còn đi chơi bời
Trâu ta ở vậy
Mà uống nước ao
Đói no cũng vậy
Chẳng thoát ruộng nào
Tháng sáu trời lại khô khao
Tháng bảy mưa rào 
Cày cấy đông tây
Làm gì nên nỗi thế này
Dưới chân đĩa cắn
Ruồi bay quanh sừng…
 
5. Thần thoại

Sự tích hồ Kim Ngưu (hồ Tây)

Các cụ già quanh hồ Tây hay kể về chuyện trâu vàng. Chuyện có liên quan đến ông Khổng Lồ Khổng Minh Không (1066 - 1141) là đại danh y, Quốc sư triều nhà Lý. Tục truyền, Khổng Minh Không được mời sang Tàu chữa bệnh cho hoàng hậu. Sau khi chữa bệnh xong, ông được vua Tàu cho vào kho lấy đồng đen về nước. Trước cửa kho có tượng một con trâu to lớn đúc toàn bằng vàng ròng, đứng canh giữ. Khi về nước, ông đã đúc một quả chuông rất lớn, khi đánh thử tiếng vang sang tận phương Bắc. Con trâu vàng bên đó tưởng tiếng mẹ gọi (đồng đen là mẹ vàng) liền chạy sang ta. Vết trâu chạy ở Hà Nội thành sông Kim Ngưu - sông trâu vàng, và chỗ trâu dẫm nát khu rừng lim thì thành hồ Kim Ngưu - hồ trâu vàng, tức hồ Tây bây giờ. Thấy trâu vàng gây họa lớn, Quốc sư bèn lăn chuông xuống hồ, trâu vàng cũng nhảy theo rồi biến mất từ đấy. Dân gian còn truyền rằng, vào những đêm thanh vắng trâu vàng liền hiện lên sáng rực cả một vùng hồ. Do vậy truyện lại còn có những tình tiết hấp dẫn gắn liền với câu ca cổ của vùng này:

Năm trai năm gái là mười
Năm dâu năm rể là đôi mươi tròn
Hai bên phụ mẫu song toàn
Rồi ta kéo được trâu vàng hồ Tây

Dân gian vẫn tin rằng ai có đủ điều kiện như thế sẽ kéo được trâu vàng. Một nhà kia đẻ được chín đứa con, thêm một đứa con trai nuôi nữa là mười, bèn rủ nhau ra hồ Tây để kéo trâu vàng. Lúc trâu sắp nổi lên khỏi mặt nước, bà mẹ sướng quá buột miệng nói: “chín con đẻ không khỏe bằng một đứa con nuôi”. Thế là trâu vàng lại biến mất tăm…

Tục truyền Cao Biền, tên đô hộ nhà Đường giỏi thuật số và địa lý, thường cưỡi diều giấy bay khắp nơi để yểm các thắng cảnh của ta. Có lần ngồi trên không, y đã thấy trâu vàng đi vào hồ Dâm Đàm tức hồ Tây, rồi thoắt không thấy đâu nữa. Y tìm kiếm trâu vàng để yểm mà vẫn mất hút, lấy làm hận vô cùng.

Hiện nay trong cụm di tích lịch sử - văn hóa phủ Tây Hồ còn có đền Kim Ngưu thờ thần trâu vàng , trước cửa đền có tấm biển ghi: “Đền Kim Ngưu - thần trâu vàng hồ Tây đã giúp nước, giúp dân quan nhiều triều đại, được sắc phong Đế quân thượng đẳng thần”.